Công thức máu và các chỉ số xét nghiệm cần biết

Công thức máu và các chỉ số xét nghiệm cần biết

Công thức máu và các chỉ số xét nghiệm cần biết sẽ giúp bạn đọc nắm được các kiến thức và thông tin cơ bản, từ đó khi đi xét nghiệm máu sẽ có sự chuẩn bị tốt hơn và có thể hiểu được tình trạng sức khỏe của mình khi đọc kết quả chỉ số xét nghiệm máu.

Đừng bỏ lỡ bài viết khoa học và chính xác về: Quá trình nhân đôi ADN diễn ra ở đâu?

Công thức máu là gì?

Công thức máu là một trong những xét nghiệm được sử dụng nhiều nhất trong xét nghiệm huyết học, xét nghiệm y khoa. Nếu như trước đây y học chưa phát triển và công thức máu được thực hiện bằng các dụng cụ đếm tay để xác định số lượng từng loại tế bào thì hiện nay, các mẫu máu khi xét nghiệm được đưa vào máy đếm tự động, việc thực hiện công thức máu trở nên đơn giản và nhanh chóng hơn rất nhiều.

Công thức máu là xét nghiệm quan trọng cung cấp cho bác sĩ và người xét nghiệm những thông tin hữu ích về tình trạng sức khỏe của người thực hiện công thức máu. Xét nghiệm công thức máu mang tính chất gợi hướng và có ý nghĩa quan trọng giúp xác định được nguyên nhân gây bệnh và tình trạng hiện tại của bệnh nhân.

Công thức máu và các chỉ số xét nghiệm cần biết

Công thức máu và các chỉ số xét nghiệm cần biết

Khi đi xét nghiệm máu sẽ có rất nhiều các chỉ số được thể hiện và mỗi chỉ số lại có những ý nghĩa khác nhau. Bạn đọc nếu muốn hiểu hơn về công thức máu và các chỉ số xét nghiệm cần biết, hãy tham khảo cách đọc chỉ số khi xét nghiệm như sau:

+ NEUT (Neutrophil) - bạch cầu trung tính

Bạch cầu trung tính thường dao động ở mức từ 60 đến 66% và có chức năng quan trọng là thực bào, tấn công và ăn các vi khuẩn khi sinh vật xâm nhập cơ thể. Lượng bạch cầu trung tính trong máu sẽ tăng nếu bệnh nhân mắc chứng nhiễm trùng cấp, nhiễm khuẩn cấp và nhồi máu cơ tim.

NEUT sẽ giảm trong máu nếu cơ thể sử dụng các loại thuốc ức chế miễn dịch, cơ thể bị nhiễm độc kim loại nặng, thiếu máu bất sản.

+ MON (monocyte) - bạch cầu mono

Lượng bạch cầu mono trong máu khoảng 4-8% và chúng là bạch cầu đơn nhân, sau đó sẽ biến hóa và trở thành đại thực bào. Bạch cầu mono bảo vệ cơ thể bằng cách thực bào và chúng có khả năng thực bào rất mạnh (mạnh hơn so với bạch cầu đa nhân trung tính).

Trong máu, lượng bạch cầu mono sẽ tăng khi cơ thể nhiễm ung thư, virus, u lympho. Lượng bạch cầu mono giảm nếu bệnh nhân thiếu máu bất sản, dùng thuốc có chứa corticosteroid

+ EOS (eosinophils) - bạch cầu ái toan

Lượng bạch cầu loại này có trong máu ở mức ít, chỉ từ 0,1 đến 7% và chúng có khả năng thực bào yếu. Bạch cầu ái toan này tăng trong trường hợp bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng, mắc bệnh dị ứng. EOS giảm nếu người đi xét nghiệm máu có sử dụng corticosteroid trước đó.

Công thức máu và các chỉ số xét nghiệm cần biết

+ WBC (White Blood Cell) - Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu

Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu có giá trị bình thường khoảng 4.300 đến 10.800 tế bào trên mm3.

Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu sẽ tăng nếu cơ thể nhiễm khuẩn cấp, nhiễm ký sinh trùng, mắc chứng bạch cầu lympho cấp, bệnh u bạch cầu, bệnh bạch cầu dòng tủy cấp hoặc sử dụng các loại thuốc có chứa corticosteroid.

WBC trong máu sẽ giảm hơn mức trung bình nêu cơ thể nhiễm siêu virus nguy hiểm như HIV, viêm gan B hoặc do thiếu máu bất sản, thiếu vitamin B12 hoặc folate. Trong một số trường hợp, cơ thể cũng sẽ giảm lượng bạch cầu trong một thể tích máu nếu sử dụng một số các loại thuốc phenothiazine, chloramphenicol.

+ PDW (Platelet Disrabution Width) – Độ phân bố kích thước tiểu cầu

Độ phân bố kích thước tiểu cầu thường dao động ở mức 6 đến 18% và sẽ tăng nếu cơ thể mắc bệnh hồng cầu hình lưỡi liềm, ung thư phổ hoặc nhiễm khuẩn huyết. Độ phân bố kích thước tiểu cầu sẽ giảm nếu người đi xét nghiệm máu bị mắc chứng nghiện rượu.

+ MPV (Mean Platelet Volume) – Thể tích trung bình của tiểu cầu trong một thể tích máu

Thể tích trung bình của tiểu cầu trong một thể tích máu trung bình khoảng 6,5 đến 11 fL và sẽ tăng trong trường hợp bệnh nhân mắc chứng tiểu đường, tim mạch…..Những trường hợp MPV giảm là khi bệnh nhân thiếu máu bất sản, bị bệnh bạch cầu cấp tính, thiếu máu nguyên hồng cầu.

+ LYM (Lymphocyte) – Bạch cầu Lympho

Bạch cầu Lympho trung bình có trong máu từ 20-25%  gồm lympho T và lympho B, là các tế bào có khả năng miễn dịch. Số lượng bạch cầu lympho tăng nếu bệnh nhân nhiễm khuẩn, mắc chứng bạch cầu dòng lympho, suy tuyến thượng thận,….

Lượng bạch cầu lympho trong cơ thể giảm khi bệnh nhân mắc bệnh lao, sốt rét, ung thư hoặc mắc bệnh HIV.

+ BASO (basophils) – Bạch cầu ái kiềm

Chỉ số trong máu của dòng BASO là 0,1 đến 2,5%, có vai trò rất quan trọng trong các phản ứng dị ứng. Bệnh nhân sẽ có lượng bạch cầu ái kiềm trong máu tăng nếu mắc chứng leukemia mạn tính, sau phẫu thuật cắt lách, bệnh đa hồng cầu,….

Lượng BASO trong máu giảm nếu cơ thể quá mẫn cảm, bị stress hoặc bị tổn thương tủy xương.

+ RBC (Red Blood Cell) – Số lượng hồng cầu trong một thể tích máu

Số lượng hồng cầu trong một thể tích máu khoảng 4,2 đến 5,9 triệu tế bào trên cm3. Trong các trường hợp bệnh nhân mắc chứng đa hồng cầu, mất nước hoặc do bệnh tim mạch thì RBC sẽ tăng lên.

Còn các trường hợp thiếu máu, suy tủy, mắc bệnh lupus ban đỏ hoặc sốt rét thì lượng RBC giảm sút so với mức trung bình.

+ HBG (Hemoglobin) – Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu

Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu có giá trị thông thường ở nam và nữ khác nhau. Nếu như nam giới có mức trung bình là 13 đến 18g/dl thì ở nữ là 12 đến 16g/dl.

Hemoglobin là một phân tử protein khá phức tạp, có khả năng vận chuyển oxy tạo màu đỏ cho hồng cầu. Trong máu, lượng Hemoglobin tăng nếu cơ thể mất nước, mắc bệnh tim mạch hoặc bị bỏng. Lượng Hemoglobin giảm nếu bệnh nhân thiếu máu, mắc chứng tán huyết hoặc xuất huyết.

+ HCT (Hematocrit) – Tỷ lệ thể tích hồng cầu trên thể tích máu toàn phần

Hematocrit cũng có giá trị thông thường ở nam và nữ có sự chênh lệch. Ở nam giới trung bình từ 45 đến 52%, nữ giới là 37 đến 48%. Lượng Hematocrit tăng nếu như bệnh nhân mắc bệnh tim, phổi, chứng tăng hồng cầu hoặc do mất nước.

Các trường hợp Hematocrit trong máu giảm là khi cơ thể xuất huyết, thiếu máu hoặc mất máu.

+ MCV (Mean corpuscular volume) – Thể tích trung bình của một hồng cầu

HCT : lượng hồng cầu = Thể tích trung bình của một hồng cầu

Trung bình, MCV giao động  trong mức 80 đến 100fl và sẽ tăng nếu bệnh nhân mắc bệnh gan, chứng tăng hồng cầu hoặc do thiếu vitamin B12, thiếu acid folic.

Trong các trường hợp thiếu sắt, thiếu máu do mắc bện mãn tính hoặc do bệnh nhân mắc chứng thalassemia thì thể tích trung bình của một hồng cầu sẽ giảm sút.

Công thức máu và các chỉ số xét nghiệm cần biết

+ MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin) – Lượng huyết sắc tố trung bình trong một hồng cầu

HBG : số lượng hồng cầu = Lượng huyết sắc tố trung bình trong một hồng cầu

Thông thường, lượng huyết sắc tố trung bình trong một hồng cầu giao động khoảng 27 đến 32pg và sẽ tăng ở trẻ sơ sinh, do bệnh nhân thiếu máu hồng cầu to. MCH giảm nếu cơ thể trong tình trạng thiếu máu, thiếu sắt.

+ MCHC (Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration) – Nồng độ trung bình của huyết sắc tố hemoglobin trong một thể tích máu

HBG : HCT = Nồng độ trung bình của huyết sắc tố hemoglobin trong một thể tích máu

Trung bình, MCHC ở mức 32 đến 36%, sẽ tăng tăng ở trẻ sơ sinh, do bệnh nhân thiếu máu hồng cầu to và giảm nếu cơ thể thiếu máu, thiếu sắt.

+ RDW (Red Cell Distribution Width) – Độ phân bố kích thước hồng cầu

Nếu kích thước hồng cầu có sự thay đổi càng lớn thì lượng RDW thay đổi càng nhiều. Giá trị trung bình của độ phân bố kích thước hồng cầu trong máu là từ 11 đến 15%.

+ PLT (Platelet Count) – Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu

Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu có giá trị trung bình từ 150.000 đến 400.000 /cm3 và tiểu cầu đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình đông máu. Nếu lượng tiểu cầu quá ít sẽ gây mất máu và quá cao gây tình trạng máu đông, vón cục nguy hại cho tính mạng.

Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu sẽ tăng nếu bệnh nhân viêm nhiễm, rối loạn tăng sinh tủy hoặc chấn thương, sau khi đã thực hiện phẫu thuật cắt lách. Trong trường hợp bệnh nhân suy tủy, cường lách, ung thư giai đoạn di căng hoặc trẻ sơ sinh mắc bệnh lý huyết tán sẽ có lượng PLT giảm.

>>>> Với các chỉ số này, chắc chắn bạn đọc đã biết được tầm quan trọng của từng chỉ số trong xét nghiệm máu và biết được xét nghiệm máu có tầm quan trọng như thế nào trong sức khỏe của con người. Xét nghiệm máu là việc làm cần thiết và cực kỳ quan trọng mà bất cứ ai cũng nên đi thực hiện định kỳ hoặc khi sức khỏe có bất thường.

Lưu ý gì khi đi xét nghiệm máu

Để có được kết quả nhanh chóng, chính xác nhất và tiết kiệm được thời gian thì trước khi đi thực hiện xét nghiệm máu, đừng quên những điều sau đây:

+ Ngưng sử dụng các loại thuốc hoặc nếu lỡ sử dụng, hãy thông báo cho bác sĩ để được tư vấn loại thuốc đó có chứa thành phần làm ảnh hưởng chỉ số khi xét nghiệm máu không. Nếu loại thuốc không có vấn đề, vẫn có thể tiến hành xét nghiệm máu bình thường mà không sợ ảnh hưởng kết quả.

+ Nếu xét nghiệm đường huyết hay mỡ máu, gan mật thì phải nhịn ăn ít nhất 8 tiếng, không uống café hoặc trà, rượu bia và đương nhiên không hút thuốc trước khi đi xét nghiệm.

>>>> Để được tư vấn cụ thể hơn về công thức máu cùng các chỉ số, đồng thời được thực hiện xét nghiệm máu nhanh chóng – chính xác với giá tốt nhất, đừng quên liên hệ cùng Viện Genlab ngay hôm nay!

Tham khảo thêm bài viết hữu ích: So sánh ADN ARN và Protein giống nhau khác nhau ở điểm nào

TOP